Bài Đăng Mới

Loạt hình về bản chất cuộc sống khiến bạn phải giật mình

Written By long hpec on Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014 | 03:14

nino24 ) - Loạt hình về bản chất cuộc sống khiến bạn phải giật mình
Loạt ảnh về cách con người đối xử với nhau, hay bản chất của thành công là những điều khiến chúng ta phải suy ngẫm.


Người giơ tay về phía bạn chưa chắc đã thực lòng muốn cứu bạn.


Đôi khi cuộc sống có nhẹ nhàng thoải mái hay không là dựa vào việc bạn lựa chọn con đường như thế nào.


Thành công đôi khi bị đánh đổi bởi phút chốc chán nản.


Không cần bảo thủ quy tắc, dám sáng tạo mới có thể đánh bại đối thủ.


Phương hướng không đúng thì càng cố gắng càng gian nan.


Nắm trong tay nhiều tài nguyên đến đâu không quan trọng. Nếu bạn không biết cách sử dụng thì vĩnh viễn không bao giờ là đủ.


Có một ngày, bạn cảm thấy cuộc sống thật gian nan, nhưng như vậy thì thành quả gặt hái có thể sẽ rất to lớn.


Đến một ngày, cuộc sống của con người sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ.


Người nghèo khổ phải quỳ gối phục tùng kẻ quyền quý và mạng sống lúc nào cũng bị đe dọa.


Kẻ ăn không hết người lần chẳng ra.


Sự thờ ơ lan dần trong cộng đồngkhiến người ta không còn đức tin.


Rừng xanh dần bị con người biến thành than củi.


Dù rừng là lá phổi xanh của Trái Đất nhưng điều đó cũng không ngăn cản được con người chặt phá để kiếm lợi.



Cuộc sống khốn khó của những người nghèo khổ.




Sự chênh lệch giàu nghèo, bóc lột là vấn nạn thời nào cũng có.


Con người tự lừa dối, huyễn hoặc bản thân trước tai họa mình gây ra.

Đến một ngày, con người sẽ chỉ còn sống với những thứ tự mình tạo ra.

Có những thứ không là gì với người này nhưng lại rất có giá trị với người khác.



Những thiết bị công nghệ hiện đại do con người tạo ra sẽ hủy diệt môi trường sống của chính chúng ta.


Phiền muộn, trầm cảm như cái bóng vô hình ngày càng lớn dần rồi bóp nghẹt con người.





Nguồn :
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !

Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 2

nino24 ) - Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 2
Quản trị mạng - Trong phần hai này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách tạo các nhiệm vụ và xem nhiệm vụ nào được lập lịch trình để có thể chạy trên hệ thống của bạn.
Giới thiệu
Trong phần đầu tiên của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn một số tính năng khác nhau của Windows Server 2008 Task Scheduler. Trong phần hai này, chúng tôi sẽ tiếp tục loạt bài bằng cách giới thiệu cách tạo một nhiệm vụ và một số nhiệm vụ được thiết lập một cách mặc định.
Tạo một nhiệm vụ
Việc tạo một nhiệm vụ khá đơn giản trong Windows Server 2008 Task Scheduler.  Bắt đầu quá trình tạo nhiệm vụ bằng cách kích vào liên kết Create Basic Task trong panel Actions của giao diện điều khiển Task Scheduler. Khi bạn thực hiện như vậy, Windows sẽ khởi chạy Create Basic Task Wizard. Màn hình chào của wizard sẽ yêu cầu bạn nhập vào đó tên cho nhiệm vụ mà bạn đang tạo. Bạn cũng có thể nhập vào phần mô tả nhưng đây là phần không bắt buộc. Lý do bạn nên nhập vào phần mô tả một số chỉ dẫn là để phân biệt giữa các nhiệm vụ với nhau một cách dễ dàng và chính xác.
Khi bạn đã nhập vào tên và phần mô tả cho nhiệm vụ mà bạn đang tạo, hãy kích Next, khi đó bạn sẽ được đưa đến màn hình Task Trigger của wizard. Màn hình này sẽ cho phép bạn chỉ định những sự kiện nào phải xuất hiện để kích hoạt nhiệm vụ. Hầu hết các tùy chọn trên màn hình đều liên quan đến việc lập lịch trình. Cho ví dụ, bạn có thể lập lịch trình cho một nhiệm vụ để có thể chạy hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng hoặc tại một mốc thời gian được xác định từ trước. Rõ ràng bạn không phải chạy nhiệm vụ trên một lịch trình. Bên cạnh đó bạn còn có thể kích hoạt nhiệm vụ chạy trong trường hợp máy tính khởi động hoặc khi ai đó đăng nhập, hoặc khi một sự kiện nào đó được ghi vào các bản ghi sự kiện Windows. Bạn có thể xem những gì có trong màn hình Triggers trong hình A bên dưới.

Hình A: Bạn phải chỉ định Task Scheduler thời điểm bắt đầu nhiệm vụ.
Khi bạn kích Next, bạn có thể thấy được màn hình yêu cầu nhập thêm các thông tin bổ sung phụ thuộc vào tùy chọn nào bạn đã chọn sử dụng như một bộ kích hoạt nhiệm vụ. Cho ví dụ, nếu bạn lập lịch trình cho một nhiệm vụ nhằm chạy tại một thời điểm nào đó hoặc vào một ngày cụ thể nào đó, màn hình tiếp theo sẽ yêu cầu bạn chỉ định ngày và thời gian khi nhiệm vụ chạy. Nếu bạn kích hoạt nhiệm vụ để chạy nhằm đáp trả một sự kiện được ghi vào các bản ghi sự kiện của Windows, khi đó màn hình kế tiếp sẽ nhắc bạn chọn bản ghi sự kiện mà bạn muốn kiểm tra, nguồn của sự kiện, mã sự kiện để tìm kiếm, như thể hiện trong hình B.

Hình B: Bạn có thể thấy màn hình yêu cầu bạn cung cấp các thông tin bổ sung, các thông tin bổ sung này phụ thuộc vào tùy chọn nào mà bạn đã chọn trước đó
Khi bạn đã cung cấp các thông tin cần thiết, hãy kích Next, khi đó bạn sẽ thấy màn hình Action, thể hiên trong hình C. Như những gì có thể thấy trong hình này, bạn có thể chọn bắt đầu chương trình, gửi email hoặc hiển thị thông tin mạng nhằm đáp trả cho một kích hoạt sự kiện.

Hình C: Bạn có thể chọn bắt đầu chương trình, gửi email hoặc hiển thị thông tin mạng nhằm đáp trả cho một kích hoạt sự kiện.
Khi kích Next, bạn sẽ thấy một màn hình nhắc nhở nhập vào các thông tin bổ sung. Tuy nhiên ở đây các thông tin được yêu cầu sẽ phụ thuộc vào kiểu hành động mà bạn đã thực hiện. Cho ví dụ, nếu đã chọn khởi chạy chương trình thì bạn sẽ bị nhắc nhở nhập vào tên của chương trình và các đối số tùy chọn mà bạn muốn chỉ định, thư mục khởi động. Còn trong trường hợp chọn gửi một thông báo email thì bạn phải cung cấp địa chỉ email, dòng chủ đề, nội dung trong thư, tên của máy chủ SMTP sẽ được sử dụng để truyền tải thông điệp. Và tất nhiên ban cũng có cả tùy chọn gắn thêm các đính kèm cho email.
Kích Next, khi đó bạn sẽ thấy màn hình hiển thị tóm tắt của nhiệm vụ đã tạo. Một thứ mà chúng tôi thực sự thích vè màn hình này đó là nó gồm có một hộp kiểm mà bạn có thể chọn nếu muốn Windows mở trang thuộc tính của nhiệm vụ. Như đã đề cập trong phần đầu tiên của loạt bài này, trang thuộc tính của nhiệm vụ cho phép bạn truy cập vào các thiết lập nâng cao hơn đối với nhiệm vụ. Thậm chí nếu bạn không có kế hoạch điều chỉnh bất cứ thiết lập nâng cao nào của nhiệm vụ, chúng tôi khuyên bạn hãy tiếp tục và mở trang thuộc tính của nhiệm vụ và kiểm tra tab General. Tab General gồm có một vài tùy chọn đều kiểm soát xem người dùng có phải đăng ký theo thứ tự cho nhiệm vụ để chạy hay không và nhiệm cụ có cần chạy với các đặc quyền cao hay không. Mặc định, Windows Server 2008 yêu cầu người dùng phải đăng ký theo thứ thự cho nhiệm vụ. Rõ ràng, điều này thường không thực tế cho các nhiệm vụ liên quan đến máy chủ, chính vì vậy bạn có thể sẽ thích thay đổi.
Kích hoạt nhiệm vụ nào?
Thứ cuối cùng mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn là cách bạn có thể chỉ ra nhiệm vụ nào được cấu hình để chạy trên hệ thống của bạn. Bạn có thể thấy tất cả các nhiệm vụ mà bạn đã tạo bằng cách chọn mục Task Scheduler Library trong giao diện điều khiển. Như những gì bạn có thể thấy trong hình D, việc chọn mục này sẽ là cho Windows hiển thị tất cả các nhiệm vụ được lên lịch trình cũng như trang thuộc tính cho nhiệm vụ có liên qua.

Hình D: Bạn có thể thấy các nhiệm vụ đã được lập lịch trình bằng cách chọn mục Task Scheduler Library
Các nhiệm vụ bảo trì hệ thống
Nếu quan sát vào hình trên, bạn sẽ thấy rằng có rất nhiều các mục con bên trong mục Task Scheduler Library này. Các mục con này điều liên quan đến các nhiệm vụ bảo trì hệ thống khác nhau mà Microsoft đã thiết kế để Windows có thể thực hiên một cách tự động. Cho ví dụ, nếu bạn quan sát vào hình E, bạn có thể thấy Windows được cấu hình để “defragment” ổ đĩa cứng lúc 1:00 AM vào thứ Tư hàng tuần. Rõ ràng, đây là một trong những nhiệm vụ built in. Nếu quan sát vao các mục con khác, bạn sẽ thấy có khá nhiều nhiệm vụ đi kèm có liên quan đến các khía cạnh khác nhau của hệ điều hành Windows. Các nhiệm vụ đi kèm này rất quan trọng cho việc giữ cho Windows chạy một cách hài hòa, chính vì vậy chúng tôi khuyên bạn nên để lại các tùy chọn mặc định đó.

Hình E: Microsoft đã tạo một số các nhiệm vụ đi kèm được thiết kế để hệ thống chạy tối ưu.
Kết luận
Trong loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về Windows task scheduler và sự khác nhau như thế nào giữa giao diện mới với các giao diện trước kia trong các phiên bản Windows cũ. Bên cạnh đó chúng tôi cũng giới thiệu cho bạn cách lập lịch trình các nhiệm vụ và cách xem các nhiệm vụ nào hiện đã được lập lịch trình để chạy.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)





Nguồn :
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !

Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1

nino24 ) - Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1
Quản trị mạng - Windows Task Scheduler có từ rất lâu rồi. Công cụ này xuất hiện ít nhất cũng từ thời Windows NT 4.0 và đã giải quyết được nhiều vấn đề trong những năm đã qua. Từ thời đại của Windows NT, Windows Task Scheduler đã tồn tại dưới dạng một công cụ dòng lệnh có tên AT.
AT được sử dụng để chạy các nhiệm vụ ở một thời điểm cụ thể. Mặc dù AT đã thực hiện tốt công việc của nó nhưng nó vẫn yêu cầu quản trị viên  phải nhập vào một số các khóa chuyển đổi dòng lệnh phức tạp.
Chính vì sự phức tạp đó nên Microsoft đã giới thiệu một giao diện đồ họa cho công cụ AT (có lẽ được phát hành đầu tiên trong Windows 98 Resource Kit). Công cụ này có tên gọi WinAT, đã đơn giản hóa quá trình xử lý bằng cách sử dụng Windows task scheduler, tuy nhiên có một số lý do mà nó chưa bao giờ đáp ứng được các yêu cầu của các quản trị viên.
Mặc dù vậy nhưng AT vẫn tồn tại trong Windows Vista và Windows Server 2008, Microsoft đã mang Windows Task Schedulers sang tận thế kỷ 21. Lệnh AT không thực sự được thay đổi nhiều nhưng thực tế nếu quan sát màn hình capture được thể hiện trong hình A, bạn sẽ thấy rằng phiên bản Windows Vista của lệnh AT cũng giống như những gì được sử dụng nhiều trong các phiên bản Windows trước đây.

Hình A: Phiên bản Windows Vista của lệnh AT giống như những gì bạn vẫn thấy nhiều trong các phiên bản Windows cũ
Các phiên bản Windows Vista và Windows Server 2008 của Task Scheduler cung cấp nhiều tính năng hơn so với những gì đã được thể hiện trong các phiên bản trước, tuy nhiên các tính năng mới này vẫn chưa được bộc lộ thông qua lệnh AT mà thay vào đó, có một giao diện người dùng mới cung cấp cho bạn sự truy cập vào tất cả các tính năng mới này. Trong Windows Server 2008, bạn có thể truy cập vào Windows Task Scheduler bằng cách mở Server Manager và điều hướng thông qua cây giao diện để vào Server Manager | Configuration | Task Scheduler. Bạn có thể quan sát về diện mạo của giao diện trong hình B.

Hình B: Màn hình Windows Task Scheduler ban đầu hiển thị tất cả các nhiệm vụ đã được hoàn thành trong 24h vừa qua.
Các Trigger
Một trong những khác biệt lớn nhất giữa task scheduler của Windows Server 2008 và Windows Vista là số lượng các trigger có sẵn. Một trigger là một sự kiện để tạo nên hành động đã được lập lịch biểu. Nếu bạn đang sử dụng lệnh AT như một giao diện cho Windows Task Scheduler, thì chỉ có trigger có sẵn đối với bạn là schedule trigger. Cho ví dụ, bạn có thể cấu hình Windows Task Scheduler để thực hiện một hành động tại một thời điểm cụ thể nào đó. Bạn cũng có tùy chọn tạo sự kiện diễn ra có tính chất định kỳ, nhưng đó là các tùy chọn trigger khác.
Nếu bạn sử dụng giao diện đồ họa cho Windows Task Scheduler, bạn sẽ có tùy chọn cho việc tạo các trigger được lập lịch trình, tuy nhiên có rất nhiều tùy chọn có sẵn khác nữa. Một trong số các trigger khác được cung cấp ở đây gồm:
  • At Log On
  • At Startup
  • On Idle
  • On an Event
  • At Task Creation / Modification
  • On Connection to User Session
  • On Disconnect from User Session
  • On Workstation Lock
  • On Workstation Unlock
Như những gì bạn có thể hình dung, các kiểu trigger khác nhau này cho phép bạn rất nhiều khả năng linh hoạt. Cho ví dụ, bạn có thể tạo một nhiệm vụ để tự động chạy một kịch bản khi một sự kiện hệ thống nào đó xuất hiện. Ngược lại bạn có thể tạo một nhiệm vụ để hiển thị một thông báo cảnh báo bảo mật mỗi khi người dùng mở khóa máy tính của họ.
Các Action
Microsoft đã tạo rất nhiều kiểu schedule trigger mới, họ cũng cho phép bạn có nhiều tùy chọn trong quá trình thực hiện hành động nào đó khi một trigger xuất hiện. Nếu đã từng làm việc với AT command, thì bạn sẽ biết rằng trước đây tùy chỉ có tùy chọn của bạn cho việc thực hiện hành động để chạy một lệnh. Lệnh này có thể là một chương trình thực thi, hoặc nó cũng có thể là một file .bat.
Tuy nhiên Windows Task Scheduler GUI trong Windows Server 2008 vẫn cho phép bạn thực thi lệnh khi một trigger xuất hiện, nhưng bạn không chỉ có tùy chọn đó mà còn có thể gửi một email (với một đính kèm mang tính tùy chọn) hoặc hiển thị một thông báo trong một cửa sổ trên máy tính mà trên đó trigger xuất hiện.
Nói theo góc độ kỹ thuật, tất cả các tùy chọn này đều hoàn toàn mang tính khả thi khi sử dụng lệnh AT. Sự khác biệt ở đây là nếu bạn muốn sử dụng lệnh AT để gửi một thông báo email hoặc để hiển thị một thông báo văn bản nào đó thì bạn sẽ phải viết một kịch bản để tạo thông báo, sau đó thiết lập một nhiệm vụ để khởi chạy kịch bản tại thời điểm lập lịch trình. Windows Server 2008 cho phép bạn hoàn toàn thoải mái trong việc tạo kịch bản vì nó cung cấp các công cụ hiển thị các thông báo văn bản email. Tất cả những gì bạn cần phải thực hiện là điền vào trong các trường.
Các điều kiện
Điều thú vị về Windows Server 2008 Task Scheduler là rằng nó còn cho phép bạn có thể kiểm soát các điều kiện trigger nào có hiệu lực. Cho ví dụ, bạn có thể chỉ muốn một nhiệm vụ lập lịch trình để chạy nếu máy tính chạy bằng nguồn AC, bằng không trong trường hợp nó chạy bằng battery. Ngược lại nếu máy tính đang ở trong chế độ ngủ đông (hibernation) thì bạn cần phải quyết đinh xem máy tính có nên thức giấc để thực hiện nhiệm vụ đã được kích hoạt, hoặc muốn máy tính vẫn ở chế độ ngủ.
Nếu Windows đang chạy trên một laptop thì đôi khi kết nối mạng có thể bị đứt (kết nối mạng không dây). Nếu nhiệm vụ đã được kích hoạt phụ thuộc vào mạng thì nó sẽ không có tác dụng khi chạy, chính vì vậy bạn cần làm sao để Windows biết được có hay không nhiệm vụ phụ thuộc vào mạng.
Trên đây là tất cả các ví dụ về các điều kiện có thể ảnh hưởng đến cách một nhiệm vụ có thể chạy. Như những gì bạn có thể thấy trong hình C, Windows cho phép bạn thiết lập trước các điều kiện này, và các điều kiện khác để Windows Task Scheduler biết được điều kiện nào sẽ chạy nhiệm vụ kích hoạt.

Hình C: Windows cung cấp một số các điều kiện mang tính tùy chọn để bạn có thể cấu hình
Các thiết lập
Các thiết lập cũng giống như các điều kiện, tuy nhiên được sử dụng khi một nhiệm vụ kích hoạt đang chạy. Cho ví dụ, một thiết lập cho phép bạn thông báo cho Windows biết những gì cần phải thực hiện nếu nhiệm vụ kích hoạt thất bại, hoặc nếu nó chạy nhưng vượt quá thời gian cho phép. Bạn cũng có thể sử dụng các thiết lập này để áp đặt một nhiệm vụ phải dừng trong các tình huống nào đó hoặc thậm chí còn tự động xóa một nhiệm vụ đã quá hạn. Hãy xem các thiết lập có sẵn đối với bạn trong hình D.

Hình D: Các thiết lập cho phép bạn điều khiển cách một nhiệm vụ tiến hành như thế nào khi nó được bắt đầu
Kết luận
Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn các thành phần cơ bản để “make up” Windows Task Scheduler. Trong phần 2 của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách tạo một nhiệm vụ, và một số nhiệm vụ built in.






Nguồn :
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !

Hướng Dẫn Chơi Xếp Rồng Trên PC Bằng Giả Lập----GENYMOTION

Written By long hpec on Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2014 | 00:55

nino24 ) - Hướng Dẫn Chơi Xếp Rồng Trên PC Bằng Giả Lập - GENYMOTION

Truy cập trang chủ Genymotion: http://www.genymotion.com/ để tải bản cài đặt.

Để tải bản cài, các bạn cần có tài khoản tại genymotion.com. Đăng ký tài khoản tại: https://cloud.genymotion.com/page/customer/login/

Sau khi các bạn đã có tài khoản các bạn có thể download bản cài đặt Genymotion tại đây:
https://cloud.genymotion.com/page/launchpad/download/

Các bạn download bàn Windows 32/64 bit (with virtualbox) 2.0.1

Sau khi các bạn đã download xong bản cài đặt tương ứng với từng hệ điều hành. Tìm đến file cài đặt, cài đặt Genymotion vàomáy tính của mình.
Sau khi các bạn đã cài đặt Genymotion thành công, hãy mở Genymotion.

Bước 1: Chọn Add để chọn cấu hình thiết bị mà bạn muốn giả lập trên Genymotion.

Genymotion mặc định chưa có sẵn Google Play vì vậy ta phải cài đặt nó
Các file cần có để cài đặt Google Play:
Genymotion-ARM-Translation_v1.1.zip http://www.mediafire.com/download/xq...ation_v1.1.zip
Download file cài đặt Google Apps phù hợp với phiên bản Android
Tải cho Android 4.3 http://www.mediafire.com/download/mb...813-signed.zip
Tải cho Android 4.2 http://www.mediafire.com/download/n2...812-signed.zip
Tải cho Android 4.1 http://www.mediafire.com/download/lb...011-signed.zip
Khởi động Genymotion lên và kéo thả file Genymotion-ARM-Translation_v1.1.zip với 1 trong 3 file androi (túy vào thiết bị các bác Add ở trên) mà bạn download ở trên vào màn hình Genymotion đợi và bấm OK để thực hiện flash.

Để cài xếp rồng các bác vào google play tải hoặc có file apk thí kéo thả vào cài.


Mình không có thời gian hướng dẫn chi tiết,chỉ sơ sơ vậy thôi .







Cac bạn cứ làm theo hướng dẫn là đc.
1. Tải Genymotion, tạo tài khoản và tải về, cài đặt genymotion như chủ thớt đã hướng dẫn.
2. Mở Genymotion, click chọn "Add", nó hiện lên 1 list, có cái cài đc xếp rồng có cái không, mình đã chọn SamSung Galaxy S3 và đã chạy tốt.Chờ nó tải về.
3.Down cái Genymotion-ARM-Translation_v1.1.zip về( link ở bài chủ thớt)
4.Sau khi tải hoàn tất bạn sẽ thấy trong màn hình Geny có dòng Samsung GalaxyS3, click đúp, mở lên. nó hiện lên cái màn hình điện thoại S3, kéo thả cái file Genymotion-ARM-Translation_v1.1.zip mới tải về vô cái màn hình điện thoại. Ok cho nó flash, xong nó đòi khởi động lại điện thoại thì tắt luôn, rồi click đúp ở màn hình geny mở lên lại.
5. vô điện thoại, vô web, vô trang chủ xếp rồng, chọn cài đặt từ trang chủ soha ( android)
6. vô settings=>security=> chọn unknown souces
7.vô download, click đúp file xếp rồng mới down về............
Tận Hưởng!
Chúc các bạn may mắn!!!

Nguồn : st
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !

RAID là gì và có mấy loại RAID ?

nino24 ) - RAID là gì và có mấy loại RAID ?
Trong những năm gần đây việc đầu tư raid cho máy tính để bàn hoặc cho những hệ thống máy tính lớn là điều cần thiết. Trong vài năm trước nghe nói raid có thể gọi là một thứ gì đó xa xỉ nhưng so với thị trường thiết bị máy tính ngày nay và với việc bị mất dữ liệu, hư ổ cứng thì điều mọi người nghĩ đến đầu tiên là sử dụng raid cho hệ thống của mình. Đa số các mainboard ngày nay đều có công nghệ RAID hoặc có hỗ trợ slot cắm card RAID Controller nhưng không phải ai cũng biết cách sử dụng hiệu quả. Bài viết tôi chỉ giới thiệu thông tin cơ bản về RAID. Về cách cấu hình , create array... raid cứng cũng như raid mềm thì các bạn search trong diễn đàn hoặc google hoặc đọc thêm document của máy.

A. Vậy RAID LÀ GÌ ?

RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến: 

1. RAID 0 

Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu hai đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping. Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung mình có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ vì như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều. Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số. 

2. RAID 1

Đây là dạng RAID cơ bản nhất có khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu. Cũng giống như RAID 0, RAID 1 đòi hỏi ít nhất hai đĩa cứng để làm việc. Dữ liệu được ghi vào 2 ổ giống hệt nhau (Mirroring). Trong trường hợp một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường. Bạn có thể thay thế ổ đĩa bị hỏng mà không phải lo lắng đến vấn đề thông tin thất lạc. Đối với RAID 1, hiệu năng không phải là yếu tố hàng đầu nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó không phải là lựa chọn số một cho những người say mê tốc độ. Tuy nhiên đối với những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng thì hệ thống RAID 1 là thứ không thể thiếu. Dung lượng cuối cùng của hệ thống RAID 1 bằng dung lượng của ổ đơn (hai ổ 80GB chạy RAID 1 sẽ cho hệ thống nhìn thấy duy nhất một ổ RAID 80GB).

3. RAID 0+1 
Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đã ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai “đàn anh”. Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu “thấy được” là (4*80)/2 = 160GB. 

4. RAID 5 

Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng. Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng. Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3. Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2. Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó trình tự này lặp lại, đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu. Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao. Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB thì dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB. 

5. JBOD 
JBOD (Just a Bunch Of Disks) thực tế không phải là một dạng RAID chính thống, nhưng lại có một số đặc điểm liên quan tới RAID và được đa số các thiết bị điều khiển RAID hỗ trợ. JBOD cho phép bạn gắn bao nhiêu ổ đĩa tùy thích vào bộ điều khiển RAID của mình (dĩ nhiên là trong giới hạn cổng cho phép). Sau đó chúng sẽ được “tổng hợp” lại thành một đĩa cứng lớn hơn cho hệ thống sử dụng. Ví dụ bạn cắm vào đó các ổ 10GB, 20GB, 30GB thì thông qua bộ điều khiển RAID có hỗ trợ JBOD, máy tính sẽ nhận ra một ổ đĩa 60GB. Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi. 

6. Một số loại RAID khác

Ngoài các loại được đề cập ở trên, bạn còn có thể bắt gặp nhiều loại RAID khác nhưng chúng không được sử dụng rộng rãi mà chỉ giới hạn trong các hệ thống máy tính phục vụ mục đích riêng, có thể kể như: Level 2 (Error-Correcting Coding), Level 3 (Bit-Interleaved Parity), Level 4 (Dedicated Parity Drive), Level 6 (Independent Data Disks with Double Parity), Level 10 (Stripe of Mirrors, ngược lại với RAID 0+1), Level 7 (thương hiệu của tập đoàn Storage Computer, cho phép thêm bộ đệm cho RAID 3 và 4), RAID S (phát minh của tập đoàn EMC và được sử dụng trong các hệ thống lưu trữ Symmetrix của họ). Bên cạnh đó còn một số biến thể khác, ví dụ như Intel Matrix Storage cho phép chạy kiểu RAID 0+1 với chỉ 2 ổ cứng hoặc RAID 1.5 của DFI trên các hệ BMC 865, 875. Chúng tuy có nhiều điểm khác biệt nhưng đa phần đều là bản cải tiến của các phương thức RAID truyền thống. 

B. BẠN CẦN GÌ ĐỂ CHẠY RAID? 

Để chạy được RAID, bạn cần tối thiểu một card điều khiển (có thể là onboard hoặc card rời) và hai ổ đĩa cứng giống nhau. Đĩa cứng có thể ở bất cứ chuẩn nào, từ ATA, Serial ATA hay SCSI, SAS tốt nhất chúng nên hoàn toàn giống nhau vì một nguyên tắc đơn giản là khi hoạt động ở chế độ đồng bộ như RAID, hiệu năng chung của cả hệ thống sẽ bị kéo xuống theo ổ thấp nhất nếu có. Ví dụ khi bạn bắt ổ 160GB chạy RAID với ổ 40GB (bất kể 0 hay 1) thì coi như bạn đã lãng phí 120GB vô ích vì hệ thống điều khiển chỉ coi chúng là một cặp hai ổ cứng 40GB mà thôi (ngoại trừ trường hợp JBOD như đã đề cập). Yếu tố quyết định tới số lượng ổ đĩa chính là kiểu RAID mà bạn định chạy. Chuẩn giao tiếp không quan trọng lắm, đặc biệt là giữa SATA và ATA. Một số BMC đời mới cho phép chạy RAID theo kiểu trộn lẫn cả hai giao tiếp này với nhau. Điển hình như MSI K8N Neo2 Platinum hay dòng DFI Lanparty NForce4. Bộ điều khiển RAID (RAID Controller) là nơi tập trung các cáp dữ liệu nối các đĩa cứng trong hệ thống RAID và nó xử lý toàn bộ dữ liệu đi qua đó. Bộ điều khiển này có nhiều dạng khác nhau, từ card tách rời cho dến chip tích hợp trên BMC. Đối với các hệ thống PC, tuy chưa phổ biến nhưng việc chọn mua BMC có RAID tích hợp là điều nên làm vì nói chung đây là một trong những giải pháp cải thiện hiệu năng hệ thống rõ rệt và rẻ tiền nhất, chưa tính tới giá trị an toàn dữ liệu của chúng. Một thành phần khác của hệ thống RAID không bắt buộc phải có nhưng đôi khi là hữu dụng, đó là các khay hoán đổi nóng ổ đĩa. Nó cho phép bạn thay các đĩa cứng gặp trục trặc trong khi hệ thống đang hoạt động mà không phải tắt máy (chỉ đơn giản là mở khóa, rút ổ ra và cắm ổ mới vào). Thiết bị này thường sử dụng với ổ cứng SCSI hoặc SAS và khá quan trọng đối với các hệ thống máy chủ vốn yêu cầu hoạt động liên tục. Về phần mềm thì khá đơn giản vì hầu hết các hệ điều hành hiện đại đều hỗ trợ RAID rất tốt, đặc biệt là Microsoft Windows. Nếu bạn sử dụng Windows XP, 2k3... thì bổ sung RAID khá dễ dàng. Quan trọng nhất là trình điều khiển nhưng thật tuyệt khi chúng đã được kèm sẵn với thiết bị.





Nguồn :
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !

CÁCH SỬ DỤNG BACK UP VÀ RESTORE TRONG WINDOWS 7

Written By long hpec on Thứ Ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014 | 18:49

nino24 ) - CÁCH SỬ DỤNG BACK UP VÀ RESTORE TRONG WINDOWS 7
Các tiện ích sao lưu trong các phiên bản trước của Windows được khá ít người sử dụng, các bản Ghost được biết đến nhiều hơn. Tuy nhiên, mỗi cái lại có những cái hay hơn, cái hay của Back up và Restore trên Windows là nó có sẵn ngay trên hệ điều hành ta đang dùng. Tính năng Back up và Restore trong Windows 7 có thể là công cụ sao lưu tốt nhất miễn phí, an toàn.

Thiết lập sao lưu Back up

Để tạo một bản sao lưu Back up trong Windows 7. Mở máy tính nhấp chuột phải vào ổ đĩa của bạn và chọn Properties. Sau đó nhấn vào tab Tools và nhấn vào nút Back up now.

Trong cửa sổ Back up and Restore files, bạn nhấp vào liên kết để thiết lập một bản sao lưu. Như hình dưới đây:

Windows sẽ tìm kiếm một ổ thích hợp để lưu trữ các bản sao lưu hoặc bạn cũng có thể chọn một vị trí sao lưu thông qua mạng cục bộ – Bạn nên lưu vào ổ cứng của mình rồi sau đó mới chuyển qua nơi lưu trữ khác, vì lưu qua các máy đang chia sẻ qua mạng Lan sẽ chậm.


Bạn có thể để Windows chọn mặc định những gì để sao lưu hoặc bạn có thể chọn thủ công các tập tin và thư mục. Dưới hướng dẫn tôi làm theo cách tự tôi chọn những gì cần Back up lại.

Lưu ý: Nếu bạn để Windows chọn nó sẽ không sao lưu tập tin chương trình, bất cứ điều gì với định dạng hệ thống tập tin FAT, tập tin trong Recycle Bin, hay bất kỳ tập tin tạm thời có 1GB hoặc nhiều hơn.


Chọn các tập tin và thư mục muốn có trong bản sao lưu.


Bây giờ xem xét các công việc sao lưu và đảm bảo rằng tất cả mọi thứ có vẻ đúng.


Tại đây bạn cũng có thể lên lịch những ngày và thời gian sao lưu dự phòng xảy ra.


Lưu các thiết lập sao lưu và chọn Back up now để bắt đầu và trong khi nó chạy, bạn có thể theo dõi tiến trình/


Nhấp vào nút View Details để xem chính xác những gì đang được sao lưu trong suốt quá trình.


Khi sao lưu hoàn tất, bạn sẽ thấy hai tập tin sao lưu và 1 thư mục hình ảnh. Tôi sao lưu 20GB dữ liệu và mất khoảng 15 phút bao gồm cả hệ thống hình ảnh lên đến 11GB.


Nhấp đúp chuột vào tập tin sao lưu và bạn có thể khôi phục các tập tin hoặc quản lý kích thước của thư mục sao lưu.

Khôi phục tập tin từ bản sao lưu (Restore từ bản Back up)


Nếu bạn cần phải quay trở lại và khôi phục dễ dàng bằng cách nhấn “Restore my files” trongBackup and Restore Center. Mở ra giao diện này bạn chỉ cần search vào ổ tìm kiếm khi nhấn vào nút Start của Win 7 cụm từ : Back up and Restore.


Bây giờ bạn có thể duyệt hoặc tìm kiếm các bản sao lưu gần đây nhất cho một tập tin hoặc thư mục bị mất của bạn.


Tiếp theo, bạn có thể khôi phục chúng trở lại vị trí ban đầu hoặc chọn một địa điểm khác sau đó nhấp vào Restore để Khôi phục.


Tiến độ phục hồi sẽ khác nhau tùy thuộc vào kích thước của dữ liệu và vị trí nó khôi phục lại.

Quản lý kích thước của bản sao lưu


Đôi khi bạn có thể cần phải phục hồi một số không gian đĩa và Windows 7 cho phép bạn quản lý kích thước sao lưu của bạn. Trong Backup and Restore phần nhấp vào liên kết Manager space.


Cho bạn một bản tóm tắt các vị trí sao lưu và những gì đang chiếm không gian từ các sao lưu.


Bấm vào nút View để kiểm tra các bản sao lưu các bản sao lưu khác nhau ngày tháng, nơi bạn có thể xóa những người lớn tuổi nếu cần thiết.


Bạn cũng có thể thay đổi cách các cửa sổ vẫn giữ được hình ảnh hệ thống cũ.


Sao lưu dữ liệu là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất không thể bỏ qua cho một người sử dụng máy tính. Sao lưu Back up và Khôi phục Restore trên Windows 7 hay các bản Win khác rất thuận tiện và hữu ích, bạn không cần tới 1 công cụ nào khác.


Chúc các bạn thành công!




Nguồn :
Người viết :
Biên soạn lại : Nino 24



Nhập địa chỉ email vào form bên dưới để nhận được tin từ đề tài này sớm nhất
( Vui lòng kích hoạt email khi nhận được link kích hoạt nhé )



Nếu thấy hay thì click vào nút follow (G+) bên dưới nhé ! Thanks !

Nếu thấy hay thì click vào nút thích (Like) bên dưới nhé ! Thanks !